Đăng nhậpDùng miễn phí

Ngữ văn 12 · Tập 2

Bài 7. Sự thật trong tác phẩm kí

Tác phẩm kí lấy sự thật làm nền tảng. Các văn bản trong bài cho thấy những dạng thức khác nhau của sự thật: hiện thực làng xã trong phóng sự (Việc làng) và những trải nghiệm có thật trong hồi kí (Nhớ nghĩ chiều hôm, Vĩ tuyến 17).

1. Tri thức Ngữ văn

Định nghĩa

Kí là loại hình văn học phản ánh hiện thực dựa trên người thật, việc thật, thời gian, địa điểm có thật. Tính xác thực (phi hư cấu) là đặc trưng cơ bản và là thước đo giá trị của kí; tuy vậy, người viết vẫn có thể dùng một số yếu tố hư cấu ở mức độ nhất định (chi tiết, đối thoại, liên tưởng) miễn là không làm sai lệch sự thật.

Một số thể kí trong bài
  • Phóng sự: thể kí ghi chép, điều tra về những vấn đề có tính thời sự trong đời sống xã hội; thường kết hợp tường thuật sự kiện với bình luận, bày tỏ thái độ.
  • Hồi kí: thể kí ghi lại những sự việc, con người mà người viết đã trải qua hoặc chứng kiến trong quá khứ, thường kể ở ngôi thứ nhất; sự thật được nhìn qua kí ức và suy ngẫm của tác giả.
Khi đọc tác phẩm kí, cần chú ý
  • Những yếu tố bảo đảm tính xác thực: nhân vật, sự kiện, thời gian, địa điểm, số liệu có thật.
  • Vai trò của người kể chuyện (thường là tác giả) và điểm nhìn.
  • Sự kết hợp giữa tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận; thái độ, tình cảm của người viết trước sự thật.

1.1 Nghệ thuật băm thịt gà (trích Việc làng – Ngô Tất Tố)

Nhận diện văn bản. Ngô Tất Tố (1893–1954) là nhà văn hiện thực xuất sắc, đồng thời là nhà báo, học giả; tác giả tiểu thuyết Tắt đèn, phóng sự Tập án cái đình, Việc làng. Việc làng là phóng sự viết trước Cách mạng tháng Tám, phơi bày những hủ tục nặng nề ở nông thôn Bắc Bộ.

Nội dung. Trong những dịp tế lễ, cỗ bàn ở làng, miếng ăn được chia theo ngôi thứ. Có khi chỉ một con gà mà phải chia cho rất nhiều suất, nên người làm cỗ phải có “nghệ thuật” băm thịt gà sao cho đủ phần, đúng thứ bậc. Qua những chi tiết tỉ mỉ, có thật ấy, tác giả cho thấy sự nặng nề, lố bịch của tục lệ tranh giành “miếng ăn giữa làng” và những phiền luỵ mà người nông dân phải gánh chịu.

Nghệ thuật. Ghi chép tỉ mỉ, chân thực; giọng văn châm biếm, mỉa mai; nhan đề mang tính trào phúng (gọi việc băm thịt gà là “nghệ thuật”); kết hợp tường thuật với bình luận; ngôn ngữ giàu chất dân gian.

1.2 Bước vào đời (trích Nhớ nghĩ chiều hôm – Đào Duy Anh)

Nhận diện văn bản. Đào Duy Anh (1904–1988) là nhà sử học, nhà nghiên cứu văn hoá, nhà biên soạn từ điển nổi tiếng (Việt Nam văn hoá sử cương, Hán Việt từ điển…). Nhớ nghĩ chiều hôm là hồi kí ông viết về cuộc đời mình.

Nội dung. Đoạn trích kể lại giai đoạn tác giả bắt đầu bước vào đời khi còn trẻ: những trải nghiệm, những ảnh hưởng của thời cuộc, sách báo và các nhân vật có thật mà ông gặp gỡ, góp phần định hướng con đường của một trí thức yêu nước. Sự thật được nhìn qua kí ức của người trong cuộc, kèm những suy ngẫm khi nhìn lại.

Nghệ thuật. Kể ở ngôi thứ nhất; kết hợp kể sự việc với suy ngẫm, đánh giá; nhân vật, sự kiện, thời gian, địa điểm cụ thể bảo đảm tính xác thực; giọng văn điềm đạm, chân thành.

1.3 Thực hành đọc: Vĩ tuyến 17 (trích Gánh gánh… gồng gồng… – Xuân Phượng)

Văn bản. Đoạn trích hồi kí của Xuân Phượng, một đạo diễn phim tài liệu, kể lại những trải nghiệm có thật của bà ở vùng vĩ tuyến 17 (đôi bờ sông Bến Hải) trong thời kì đất nước bị chia cắt và kháng chiến chống Mĩ.

Điểm cần chú ý. Nhận biết yếu tố bảo đảm tính xác thực: địa danh, sự kiện, con người có thật; vai trò của người kể chuyện ngôi thứ nhất; phân biệt sự thật khách quan với cảm xúc, suy ngẫm của người viết; nhận ra thái độ trân trọng trước sự hi sinh, mất mát của con người trong chiến tranh.

2. Thực hành tiếng Việt: Ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật

3. Viết: Nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ

Viết bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (cách ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, xã hội)
  1. 1.
    Mở bài: nêu vấn đề (ví dụ: cách ứng xử với cha mẹ, thầy cô, bạn bè, cộng đồng) và quan điểm của người viết.
  2. 2.
    Thân bài: giải thích vấn đề; phân tích biểu hiện, nguyên nhân, ý nghĩa bằng lí lẽ và bằng chứng xác thực; xem xét ý kiến trái chiều; đề xuất cách ứng xử đúng đắn.
  3. 3.
    Kết bài: khẳng định quan điểm, rút ra bài học cho bản thân.

4. Nói và nghe

Trình bày ý kiến về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (cách ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, xã hội): nêu rõ quan điểm, luận điểm có lí lẽ và bằng chứng; chọn ngôn ngữ trang trọng hay thân mật phù hợp với người nghe. Người nghe ghi lại ý chính, phản hồi tôn trọng.

5. Câu hỏi ôn tập

Câu hỏi 1

Đặc trưng cơ bản của tác phẩm kí là gì? Kí có được dùng yếu tố hư cấu không?

Gợi ý trả lời

Đặc trưng cơ bản là tính xác thực: dựa trên người thật, việc thật. Kí có thể dùng một số yếu tố hư cấu ở mức độ nhất định nhưng không được làm sai lệch sự thật.

Câu hỏi 2

Vì sao Ngô Tất Tố gọi việc băm thịt gà là “nghệ thuật”?

Gợi ý trả lời

Đó là cách nói mỉa: việc chia một con gà cho thật nhiều suất theo ngôi thứ đòi hỏi kĩ năng cầu kì, qua đó châm biếm hủ tục tranh giành miếng ăn giữa làng và sự lố bịch của lệ làng.

Câu hỏi 3

Phân biệt phóng sự và hồi kí qua các văn bản trong bài.

Gợi ý trả lời

Việc làng là phóng sự: ghi chép, điều tra một vấn đề xã hội có tính thời sự, kết hợp tường thuật và bình luận. Nhớ nghĩ chiều hôm, Gánh gánh… gồng gồng… là hồi kí: tác giả kể lại những gì mình đã trải qua, ở ngôi thứ nhất, qua kí ức và suy ngẫm.

Câu hỏi 4

Nêu một ví dụ về ngôn ngữ trang trọng và một ví dụ về ngôn ngữ thân mật.

Gợi ý trả lời

Trang trọng: “Kính thưa quý thầy cô và các bạn học sinh thân mến.” Thân mật: “Ê, mai đi đá bóng không?” Mỗi kiểu phù hợp với một hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.

Gặp bài khó? Chụp ảnh để CEAO giảiAI giải từng bước, đề kiểm tra theo bài, thẻ ghi nhớ. Đăng ký miễn phí.
Thử ngay