1. Bối cảnh, nguyên nhân của cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc sau năm 1975
Ngày 30-4-1975 đánh dấu thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mở ra thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong cả nước. Tuy nhiên, tình hình an ninh khu vực và thế giới vẫn diễn biến phức tạp; nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc chưa kết thúc.
Một số nguyên nhân chính buộc nhân dân ta phải tiếp tục đấu tranh:
- Ở biên giới phía Bắc: sau khi chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào tháng 1-1974, Trung Quốc tiếp tục khiêu khích trên biên giới đất liền và tuyên bố tiến hành “cuộc chiến trừng phạt”, đưa quân tấn công sâu vào lãnh thổ Việt Nam vào đầu năm 1979.
- Ở biên giới Tây Nam: chế độ diệt chủng Pôn Pốt ở Campuchia liên tục gây hấn, xâm phạm biên giới, gây thảm sát dân thường vô tội; đồng thời phối hợp với lực lượng bên ngoài nhằm uy hiếp an ninh của Việt Nam. Việt Nam buộc phải đứng lên tự vệ và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng.
- Trên biển: chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa tiếp tục bị xâm phạm; Việt Nam phải vừa giữ vững toàn vẹn lãnh thổ, vừa tạo môi trường hòa bình để xây dựng đất nước.
2. Diễn biến chính của cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc
Cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc từ sau tháng 4-1975 diễn ra trên nhiều địa bàn, trọng tâm là cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc và cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo.
- 1975 – 1978: tập đoàn Pôn Pốt liên tục xâm nhập, pháo kích và tàn sát dân thường ở vùng biên giới phía Tây Nam (ngay từ tháng 5/1975 đã tấn công các đảo Phú Quốc, Thổ Chu); Việt Nam nhiều lần đề nghị giải quyết bằng thương lượng nhưng bị khước từ.
- 22/12/1978: Pôn Pốt huy động lực lượng lớn tấn công Tây Ninh, mở cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn. Quân dân ta phản công, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi lãnh thổ; theo đề nghị của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, quân tình nguyện Việt Nam cùng quân dân Cam-pu-chia tiến công, lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt.
- 07/01/1979: giải phóng thủ đô Phnôm Pênh, chấm dứt thảm kịch diệt chủng ở Campuchia.
- 17/02/1979: Trung Quốc huy động lực lượng lớn tấn công dọc tuyến biên giới 6 tỉnh phía Bắc (từ Lai Châu đến Quảng Ninh). Nhân dân và bộ đội Việt Nam kháng chiến kiên cường, gây thiệt hại lớn cho quân xâm lược.
- 5/3/1979: Trung Quốc buộc phải tuyên bố rút quân (rút xong ngày 18/3/1979); sau đó xung đột vẫn tiếp diễn ở một số điểm biên giới (như Vị Xuyên, Hà Giang) đến năm 1989.
- 14/3/1988: Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm bãi đá Gạc Ma và một số bãi đá khác thuộc quần đảo Trường Sa; 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam hi sinh khi bảo vệ chủ quyền.
- tháng 9/1989: Việt Nam hoàn thành rút toàn bộ lực lượng tình nguyện và chuyên gia khỏi Campuchia, đáp ứng lời kêu gọi hòa bình của nhân dân hai nước và cộng đồng quốc tế.
- 1991: Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ; từng bước giải quyết các vấn đề biên giới bằng đàm phán hòa bình.
- từ đầu thế kỉ XXI đến nay: Việt Nam kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa; đồng thời giữ vững biên giới hòa bình, hữu nghị, tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.
| Cuộc đấu tranh | Thời điểm chính | Kết quả |
|---|---|---|
| Biên giới phía Bắc | 17-02-1979 đến 18-3-1979; xung đột biên giới kéo dài đến năm 1989 | Bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, làm thất bại ý đồ xâm lược |
| Biên giới Tây Nam | Từ 1975; phản công cuối 12-1978, giải phóng Phnôm Pênh 7-1-1979; rút quân tình nguyện xong 9-1989 | Lật đổ chế độ diệt chủng; hoàn tất rút quân tình nguyện khỏi Campuchia |
| Biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa | Hoàng Sa bị chiếm (1-1974); Gạc Ma (3-1988); đến nay | Kiên trì đấu tranh pháp lý, ngoại giao giữ vững chủ quyền |
3. Kết quả, ý nghĩa và bài học lịch sử
- Bảo vệ thành công độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
- Làm thất bại mọi âm mưu gây hấn, xâm lược từ bên ngoài; giữ vững ổn định chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
- Giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng, củng cố tình hữu nghị truyền thống giữa hai dân tộc; góp phần duy trì hòa bình ở khu vực Đông Nam Á.
- Khẳng định đường lối đối ngoại hòa bình, kiên trì bảo vệ chủ quyền bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế.
- Phát huy sức mạnh dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Muốn thắng lợi trong bảo vệ Tổ quốc, phải biết huy động tổng lực cả dân tộc đồng thời tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế.
- Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đảng lãnh đạo đất nước bằng đường lối đúng đắn: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dựa vào sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết dân tộc.
- Xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Phải chủ động xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ngày càng tinh nhuệ, hiện đại; kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh, đối ngoại trên cơ sở “thế trận chiến tranh nhân dân”.
- Chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao. Trong bảo vệ chủ quyền, cần kết hợp nhiều biện pháp, ưu tiên hòa bình, tránh xung đột; đồng thời sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù khi chúng thực hiện hành động xâm lược.
- Giữ vững chủ quyền trên biển, vùng trời. Bằng ý chí độc lập, tự chủ, kiên trì đấu tranh bằng pháp lý và ngoại giao, Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa trong bối cảnh biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp.
4. Câu hỏi ôn tập
Nêu diễn biến chính của cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 và cuộc bảo vệ biên giới Tây Nam (1978 – 1989).
Gợi ý trả lời
- Biên giới phía Bắc: ngày 17-02-1979, quân Trung Quốc đánh sâu vào 6 tỉnh biên giới phía Bắc; quân và dân ta kháng chiến kiên cường, buộc Trung Quốc tuyên bố rút quân (5-3-1979); xung đột ở biên giới còn kéo dài đến năm 1989. - Biên giới Tây Nam: quân Pôn Pốt gây hấn từ năm 1975, cuối 12-1978 tấn công lớn vào Tây Ninh; ta phản công; ngày 07-01-1979 giải phóng Phnôm Pênh, lật đổ Pôn Pốt; đến tháng 9-1989 hoàn tất rút toàn bộ quân tình nguyện khỏi Campuchia.
Theo em, bài học lịch sử nào là quan trọng nhất của các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc từ năm 1945 đến nay? Vì sao?
Gợi ý trả lời
Gợi ý: có thể chọn một trong các bài học như phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp sức mạnh thời đại; xây dựng nền quốc phòng toàn dân; giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng; chủ động, linh hoạt trong đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao. Cần trình bày thêm ví dụ minh họa qua từng cuộc kháng chiến.
Vì sao sau ngày 30-4-1975, Việt Nam vẫn phải tiếp tục thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc?
Gợi ý trả lời
Vì đất nước vẫn đối mặt với nguy cơ xâm lược và gây hấn: quân Pôn Pốt khiêu khích, gây thảm sát ở biên giới Tây Nam; Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc năm 1979; chủ quyền biển đảo tiếp tục bị xâm phạm; các thế lực thù địch tìm cách gây mất ổn định để phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.