1. Bối cảnh và sự chuẩn bị
- Năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc; chủ nghĩa phát xít sắp thất bại hoàn toàn.
- Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương. Ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước.
- Chính sách bóc lột của Pháp – Nhật gây nên nạn đói cuối năm 1944 – đầu năm 1945 làm gần 2 triệu đồng bào ta chết đói; mâu thuẫn giữa nhân dân với phát xít Nhật và tay sai hết sức gay gắt.
- Ngày 15/8/1945, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương hoang mang, chính quyền tay sai rệu rã; quân Đồng minh chưa vào Đông Dương. Thời cơ “ngàn năm có một” cho Tổng khởi nghĩa đã đến.
- Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5/1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; ngày 19/5/1941 thành lập Mặt trận Việt Minh, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân trong khối đoàn kết dân tộc.
- Đảng xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang (Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân thành lập ngày 22/12/1944) và căn cứ địa cách mạng (Khu giải phóng Việt Bắc thành lập tháng 6/1945).
- Cao trào kháng Nhật cứu nước, phong trào phá kho thóc cứu đói đã tập dượt quần chúng, chuẩn bị trực tiếp cho Tổng khởi nghĩa.
2. Diễn biến chính của Tổng khởi nghĩa
- 13/8/1945: Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc; ra Quân lệnh số 1, phát lệnh Tổng khởi nghĩa.
- 14 – 15/8: Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh vào; nguyên tắc chỉ đạo: tập trung, thống nhất, kịp thời.
- 16 – 17/8: Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh; quy định Quốc kỳ (cờ đỏ sao vàng), Quốc ca (“Tiến quân ca”); bầu Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Sau đó, Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên Tổng khởi nghĩa.
- Từ 14/8: nhiều địa phương ở đồng bằng Bắc Bộ, miền Trung và miền Nam bắt đầu khởi nghĩa giành chính quyền.
- 19/8: Khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội — quần chúng chiếm các cơ quan đầu não của chính quyền tay sai.
- 23/8: Khởi nghĩa thắng lợi ở Huế; 25/8: thắng lợi ở Sài Gòn.
- 28/8: Đồng Nai Thượng và Hà Tiên là những nơi giành chính quyền muộn nhất; Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong cả nước.
- 30/8: Vua Bảo Đại thoái vị, chế độ quân chủ chấm dứt.
- 2/9/1945: Tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
3. Kết quả, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm
Trong khoảng hai tuần (từ 14/8 đến 28/8/1945), Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi, chính quyền cách mạng được thiết lập trong cả nước. Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời.
- Đối với dân tộc: đập tan ách thống trị của thực dân Pháp hơn 80 năm và của phát xít Nhật, lật đổ chế độ quân chủ; nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước; mở ra kỉ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
- Đối với thế giới: là thắng lợi đầu tiên trong thời đại mới của một dân tộc nhược tiểu tự giải phóng khỏi ách đế quốc thực dân; góp phần vào cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa phát xít; cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi.
- Khách quan: Liên Xô và các nước Đồng minh đánh bại chủ nghĩa phát xít, tạo thời cơ cho nhân dân ta đứng lên.
- Chủ quan (quyết định): truyền thống yêu nước, đấu tranh bất khuất của dân tộc; sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng do Hồ Chí Minh đứng đầu; quá trình chuẩn bị lực lượng lâu dài; khối đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Việt Minh; biết chớp đúng thời cơ.
- Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn nhiệm vụ dân tộc và dân chủ.
- Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh công – nông.
- Kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa.
- Nắm vững nghệ thuật chọn đúng thời cơ, chớp thời cơ để giành thắng lợi.
4. Câu hỏi ôn tập
Nêu các nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Gợi ý trả lời
Nguyên nhân khách quan: phe Đồng minh đánh bại chủ nghĩa phát xít. Nguyên nhân chủ quan: truyền thống yêu nước; sự lãnh đạo của Đảng, Hồ Chí Minh với đường lối đúng đắn; quá trình chuẩn bị lâu dài; khối đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Việt Minh; chớp đúng thời cơ.
Vì sao nói thời cơ của Tổng khởi nghĩa tháng Tám là thời cơ “ngàn năm có một”?
Gợi ý trả lời
Vì khi Nhật đầu hàng Đồng minh, quân Nhật ở Đông Dương mất tinh thần, chính quyền tay sai tê liệt, trong khi quân Đồng minh chưa vào; lực lượng cách mạng đã sẵn sàng. Thời cơ chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nếu không giành chính quyền kịp thời thì sẽ phải đối phó với nhiều kẻ thù khi quân Đồng minh kéo vào.