1. Bối cảnh và nguyên nhân thành lập
- Giữa thế kỉ XX, khu vực Đông Nam Á là nơi hội tụ nhiều mâu thuẫn: di sản thời kì thực dân để lại các tranh chấp lãnh thổ, chia rẽ sắc tộc và tôn giáo; hệ quả Chiến tranh lạnh khiến khu vực bị các cường quốc can dự và đối đầu.
- Nhiều quốc gia vừa giành độc lập hoặc đang củng cố chủ quyền, đứng trước nhu cầu cấp bách là xóa bỏ hiềm khích, ngăn ngừa xung đột để tập trung xây dựng đất nước.
- Các nhà lãnh đạo khu vực nhận thức rằng chỉ có liên kết với nhau trên tinh thần hữu nghị, bình đẳng mới giữ được hòa bình lâu dài và tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
- Nhu cầu hợp tác kinh tế, thương mại, văn hóa và nâng cao vị thế đối thoại với bên ngoài thúc đẩy các nước cùng thành lập một tổ chức khu vực.
- Các nguyên tắc nền tảng (được khẳng định rõ trong Hiệp ước Ba-li năm 1976): tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp công việc nội bộ của nhau; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.
2. Quá trình hình thành và phát triển
- 8-8-1967: Năm ngoại trưởng của In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Xin-ga-po và Thái Lan kí Tuyên bố Băng Cốc tại thủ đô Băng Cốc (Thái Lan), chính thức thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) với 5 nước sáng lập; mục tiêu là hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, duy trì hòa bình và ổn định khu vực.
- 2-1976: Hội nghị cấp cao lần thứ nhất tại Ba-li (In-đô-nê-xi-a) kí Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Ba-li), xác định các nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các nước; ASEAN bắt đầu khởi sắc.
- 7-1-1984: Bru-nây gia nhập sau khi giành độc lập, nâng số thành viên lên 6.
- 28-7-1995: Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7, đánh dấu bước mở rộng quan trọng của ASEAN trên khắp khu vực Đông Nam Á.
- 23-7-1997: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Mi-an-ma cùng gia nhập, đưa ASEAN lên 9 thành viên.
- 30-4-1999: Vương quốc Campuchia gia nhập, hoàn thành nguyện vọng thống nhất toàn bộ 10 quốc gia Đông Nam Á trong một tổ chức chung.
- 20-11-2007: Hội nghị cấp cao lần thứ 13 (Xin-ga-po) kí Hiến chương ASEAN, tạo khuôn khổ pháp lí thống nhất cho mọi hoạt động hợp tác.
- 31-12-2015: Cộng đồng ASEAN được thành lập chính thức, đặt nền móng cho liên kết toàn diện theo hướng Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025.
- 26-10-2025: Đông Ti-mo (Ti-mo Lét-xtê) chính thức trở thành thành viên thứ 11 của ASEAN.
- Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN (APSC): tăng cường đoàn kết, đối thoại chính trị, xử lí tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, giữ vững ổn định khu vực.
- Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC): xây dựng thị trường chung, tạo thuận lợi lưu thông hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và lao động.
- Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN (ASCC): phát huy bản sắc văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống, đối phó với các thách thức xã hội.
3. Kết quả, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm
- Từ năm 1999, ASEAN trở thành tổ chức hợp tác khu vực bao gồm 10 quốc gia Đông Nam Á (năm 2025 kết nạp thêm Đông Ti-mo), liên kết trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và an ninh.
- Cộng đồng ASEAN được hình thành, hướng tới Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 với khát vọng liên kết toàn diện, thịnh vượng chung.
- Đối với khu vực: biến Đông Nam Á từ vùng xung đột thành khu vực hòa bình, ổn định; tạo môi trường thuận lợi để các nước cùng phát triển.
- Đối với thế giới: ASEAN trở thành đối tác quan trọng trong cấu trúc an ninh, hợp tác phát triển tại châu Á - Thái Bình Dương, đóng góp tích cực vào hòa bình và thịnh vượng toàn cầu.
- Đối với các nước thành viên: nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường, tăng cường vị thế đối thoại với các nước lớn.
- Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 là bước đi chiến lược, thể hiện sự chủ động hội nhập quốc tế của đất nước trong công cuộc Đổi mới.
- Việt Nam tích cực tham gia xây dựng Cộng đồng ASEAN, đóng góp vào hòa bình, ổn định và liên kết kinh tế khu vực; đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước và nâng cao vị thế quốc tế.
- Hợp tác khu vực chỉ bền vững khi dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, bình đẳng và không can thiệp nội bộ.
- Đối thoại, tin cậy chính trị và lợi ích chung là chìa khóa để xử lí khác biệt, tránh xung đột vũ trang.
4. Câu hỏi ôn tập có gợi ý
Trình bày các mốc thời gian chính trong quá trình hình thành và mở rộng thành viên của ASEAN từ năm 1967 đến năm 1999.
Gợi ý trả lời
8-8-1967: thành lập với 5 nước sáng lập (In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Xin-ga-po, Thái Lan); 1984: Bru-nây; 1995: Việt Nam; 1997: Lào và Mi-an-ma; 1999: Campuchia, hoàn thành 10 thành viên.
Nêu ba trụ cột của Cộng đồng ASEAN được thành lập ngày 31-12-2015.
Gợi ý trả lời
Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN (APSC); Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC); Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN (ASCC).
Phân tích ý nghĩa của việc Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 đối với công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.
Gợi ý trả lời
Thể hiện sự chủ động hội nhập; mở rộng hợp tác kinh tế - thương mại, đầu tư; tăng cường vị thế đối ngoại; góp phần ổn định chính trị - xã hội trong nước và nâng cao vị thế đất nước.
5. Ghi nhớ nhanh các mốc quan trọng
- 8-8-1967: Tuyên bố Băng Cốc, 5 nước sáng lập.
- 2-1976: Hiệp ước Ba-li.
- 1984: Bru-nây gia nhập.
- 1995: Việt Nam gia nhập (28-7).
- 1997: Lào, Mi-an-ma gia nhập (23-7).
- 1999: Campuchia gia nhập (30-4), đủ 10 thành viên.
- 2007: Hiến chương ASEAN.
- 31-12-2015: Thành lập Cộng đồng ASEAN với 3 trụ cột (APSC, AEC, ASCC).
- Tầm nhìn chiến lược: Cộng đồng ASEAN 2025.
- 26-10-2025: Đông Ti-mo gia nhập, ASEAN có 11 thành viên.