1. Bối cảnh, nguyên nhân và mục tiêu đối ngoại
- Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, nhưng thực dân Pháp quay lại xâm lược, đe doạ nền độc lập non trẻ.
- Từ năm 1954, đế quốc Mỹ can thiệp vào miền Nam, phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, chia cắt đất nước, đe doạ hoà bình ở Đông Dương.
- Bên cạnh đấu tranh quân sự và chính trị, Việt Nam cần hoạt động đối ngoại để: tranh thủ sự công nhận quốc tế; kêu gọi sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè; đồng thời phân hoá, cô lập kẻ thù xâm lược.
- Giai đoạn kháng Pháp: giữ vững nền độc lập, chủ quyền; tranh thủ sự công nhận và viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa và lực lượng hoà bình thế giới.
- Giai đoạn kháng Mỹ: bảo vệ miền Bắc, đấu tranh thống nhất đất nước; kiên trì giải pháp chính trị, kết hợp với giải pháp quân sự nhằm buộc Mỹ rút quân, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam.
2. Diễn biến chính
2.1 Giai đoạn 1945 – 1954: đối ngoại trong kháng chiến chống Pháp
- 1946: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiến hành nhiều cuộc tiếp xúc với Pháp nhằm giữ hoà bình, tránh xung đột và tranh thủ thời gian củng cố lực lượng.
- 6-3-1946: Kí kết Hiệp định Sơ bộ. Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng, nằm trong khối Liên hiệp Pháp; Việt Nam đồng ý cho 15 000 quân Pháp ra miền Bắc thay quân Trung Hoa Dân quốc; hai bên ngừng xung đột ở Nam Bộ.
- 7-1946 đến 9-1946: Hội nghị Phông-ten-nơ-blô (Pháp) giữa hai đoàn đại biểu Việt Nam – Pháp. Hội nghị không đạt kết quả vì Pháp không chịu công nhận độc lập và thống nhất của Việt Nam (nhất là vấn đề Nam Bộ). Cùng thời gian, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nước Pháp, vận động dư luận Pháp và quốc tế.
- 14-9-1946: Chủ tịch Hồ Chí Minh kí với Pháp bản Tạm ước: ta nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế, văn hoá ở Việt Nam; hai bên đình chỉ xung đột ở Nam Bộ, tiếp tục đàm phán. Tạm ước giúp ta có thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến.
- Cuối năm 1946: Pháp nổ súng tấn công Hải Phòng, rồi Hà Nội. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ (19-12-1946). Đối ngoại chuyển sang kết hợp đấu tranh với vận động quốc tế ủng hộ cuộc kháng chiến.
- Đầu năm 1950: Trung Quốc và Liên Xô cùng nhiều nước xã hội chủ nghĩa chính thức công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đây là bước ngoặt lớn: Việt Nam có thêm bạn bè, nhận viện trợ vật chất, tinh thần quan trọng, đồng thời cô lập thực dân Pháp.
- 3-1951: Thành lập Liên minh nhân dân Việt – Miên – Lào, tăng cường đoàn kết chiến đấu của ba nước Đông Dương.
- 1954: Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Phạm Văn Đồng dẫn đầu tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ nhằm khôi phục hoà bình ở Đông Dương, sau chiến thắng Điện Biên Phủ.
- Các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia.
- Lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời: quân đội nhân dân Việt Nam tập kết ở miền Bắc, quân đội Liên hiệp Pháp tập kết ở miền Nam.
- Theo hiệp định, đến tháng 7 năm 1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất đất nước. Tuy nhiên, sau đó Mỹ và chính quyền Sài Gòn phá hoại, tuyển cử không được thực hiện.
2.2 Giai đoạn 1954 – 1975: đối ngoại trong kháng chiến chống Mỹ
- Từ 1954: Đối ngoại gắn với yêu cầu bảo vệ miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời ủng hộ cách mạng miền Nam, đấu tranh thực hiện thống nhất bằng phương thức hoà bình theo Hiệp định Giơ-ne-vơ.
- Từ 1965: Mỹ đưa quân trực tiếp tham chiến, leo thang bom miền Bắc. Việt Nam tăng cường đối ngoại: vận động Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ; phát động phong trào bạn bè thế giới phản đối chiến tranh xâm lược.
- 1968: Sau Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Mỹ buộc phải tuyên bố hạn chế ném bom miền Bắc (3-1968) và chấp nhận đàm phán. Ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán chính thức giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ khai mạc ở Pa-ri; ngày 1-11-1968, Mỹ ngừng hẳn ném bom miền Bắc. Từ ngày 25-1-1969, Hội nghị Pa-ri bốn bên (Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Mỹ, Việt Nam Cộng hoà) bắt đầu.
- 27-1-1973: Kí kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Nội dung cơ bản: Mỹ và các nước liên quan tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; Mỹ rút toàn bộ quân và lực lượng vũ trang ra khỏi miền Nam Việt Nam; nhân dân miền Nam tự quyết định tương lai chính trị thông qua tổng tuyển cử tự do; các bên ngừng bắn ở miền Nam. Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, được trao giải Nô-ben Hoà bình năm 1973 nhưng đã từ chối nhận.
- 1973 – 1975: Trên cơ sở Hiệp định Pa-ri, quân dân miền Nam tiếp tục đấu tranh chính trị và tiến công quân sự; đồng thời đối ngoại giữ vững lập trường, buộc các bên thực hiện đúng hiệp định.
- 30-4-1975: Miền Nam được giải phóng hoàn toàn, kết thúc chiến tranh. Đất nước bước vào giai đoạn mới: hoà bình, thống nhất và độc lập dân tộc cùng chủ nghĩa xã hội.
3. Kết quả, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm
- Giữ vững nền độc lập dân tộc; Hội nghị Giơ-ne-vơ 1954 buộc Pháp rút quân, tạm thời phân chia đất nước ở vĩ tuyến 17.
- Hiệp định Pa-ri 1973 buộc Mỹ chấm dứt can thiệp vũ trang, rút quân, mở đường cho thống nhất đất nước.
- Vị thế của Việt Nam được nâng cao; tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của phe xã hội chủ nghĩa, phong trào hoà bình và nhân dân tiến bộ thế giới.
- Đối ngoại là một mặt trận quan trọng, góp phần làm thất bại chiến lược xâm lược của Pháp và Mỹ.
- Hoạt động đối ngoại kết hợp chặt chẽ với đấu tranh quân sự, chính trị: thắng lợi quân sự tạo thế mạnh trên bàn đàm phán, còn thành tựu ngoại giao lại củng cố, bảo vệ thắng lợi trên chiến trường.
- Giải quyết các vấn đề quốc tế bằng phương thức hoà bình, vì độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.
- 1.Kết hợp đấu tranh quân sự – chính trị – ngoại giao: ngoại giao phải dựa trên thực lực và thắng lợi của chiến trường, đồng thời mở đường cho giải pháp chính trị.
- 2.Mục tiêu kiên định, phương pháp linh hoạt: giữ vững nguyên tắc độc lập, chủ quyền, thống nhất; sẵn sàng thương lượng khi có điều kiện, vừa hợp tác vừa đấu tranh.
- 3.Đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ: chủ động mở rộng quan hệ với nhiều nước, tổ chức quốc tế, vận động dư luận thế giới.
- 4.Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại: tự lực cánh sinh, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế để tạo nên sức mạnh tổng hợp.
4. Câu hỏi ôn tập
Nêu những hoạt động đối ngoại chủ yếu của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với thực dân Pháp trong năm 1946 và kết quả của các hoạt động đó.
Gợi ý trả lời
Cần nêu các sự kiện: Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, Tạm ước 14-9-1946, Hội nghị Phông-ten-nơ-blô (giữa hai văn kiện). Nhận xét: các sự kiện giúp tránh xung đột một thời gian, chậm bước xâm lược của Pháp, nhưng Pháp vẫn quyết tâm tái chiếm nên hội nghị đàm phán thất bại, dẫn tới kháng chiến toàn quốc.
Sự công nhận của Trung Quốc, Liên Xô đầu năm 1950 có ý nghĩa gì đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam?
Gợi ý trả lời
Ý nghĩa: tăng thêm bạn bè quốc tế; nhận được viện trợ quân sự, kinh tế, tinh thần; nâng vị thế ngoại giao; phân hoá, cô lập thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đang hỗ trợ Pháp.
Trình bày ngắn gọn nội dung và ý nghĩa của Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 đối với Việt Nam.
Gợi ý trả lời
Nội dung: công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; ngừng bắn, phân chia tạm thời ở vĩ tuyến 17; dự kiến tuyển cử thống nhất năm 1956. Ý nghĩa: chấm dứt ách thống trị của Pháp, mở ra thời kỳ cách mạng mới; tạo cơ sở pháp lý để đấu tranh thống nhất đất nước.
Vì sao nói đàm phán Pa-ri và Hiệp định 27-1-1973 là thắng lợi của đường lối đối ngoại kết hợp đấu tranh quân sự – chính trị?
Gợi ý trả lời
Vì thắng lợi quân sự, đặc biệt sau Mậu Thân 1968, tạo thế buộc Mỹ phải ngồi bàn đàm phán. Hiệp định được kí kết buộc Mỹ rút quân, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam, đồng thời là kết quả của cả vận động ngoại giao quốc tế.
Nêu các bài học kinh nghiệm từ hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến.
Gợi ý trả lời
Cần nêu: kết hợp chặt chẽ quân sự – chính trị – ngoại giao; mục tiêu kiên định, biện pháp linh hoạt; đa dạng hoá, đa phương hoá đối ngoại; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; giữ vững độc lập tự chủ và chủ quyền quốc gia.