- Đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp đô hộ Việt Nam, đàn áp quyết liệt các phong trào yêu nước trong nước.
- Nhiều sĩ phu, chí sĩ nhận thấy cần ra nước ngoài tìm đường cứu nước, tiếp thu tư tưởng mới, tìm kiếm đồng minh quốc tế.
- Trước 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam gắn cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới, chủ động mở rộng đối ngoại.
Trong bài học này, hoạt động đối ngoại không chỉ là giao tiếp giữa chính phủ với chính phủ mà còn bao gồm đối ngoại nhân dân: trực tiếp vận động nhân dân, các tổ chức tiến bộ quốc tế, báo chí, dư luận nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ cho sự nghiệp đấu tranh dân tộc.
1. Diễn biến chính
1.1 Giai đoạn đầu thế kỉ XX: đối ngoại của phong trào yêu nước
- 1905: Phan Bội Châu sang Nhật Bản, khởi xướng phong trào Đông Du; kêu gọi thanh niên sang Nhật học tập, đồng thời tìm kiếm sự giúp đỡ của lực lượng tiến bộ Nhật Bản.
- 1912: Việt Nam Quang Phục Hội thành lập tại Quảng Châu (Trung Quốc); liên hệ với các lực lượng cách mạng và nhân dân Trung Quốc, chủ trương dùng bạo động vũ trang để giành độc lập.
- Phan Châu Trinh: sang Nhật Bản (1906), sau đó sang Pháp (1911), đưa ra các kiến nghị, đấu tranh đòi chính quyền thực dân cải cách; vận động người Việt tại Pháp và tranh thủ sự ủng hộ của các nhân sĩ tiến bộ Pháp.
- Nhận xét chung: Hoạt động đối ngoại của các sĩ phu yêu nước còn mang tính thử nghiệm, thiếu đường lối chiến lược đúng đắn và chưa gắn chặt với quần chúng, nên chưa đem lại thành công.
1.2 Giai đoạn 1911 - 1930: đối ngoại của Nguyễn Ái Quốc
- 1911: Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, bắt đầu tiếp xúc với thế giới và tìm cách giải phóng dân tộc.
- 1919: Tại Hội nghị Véc-xai, Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam, vạch trần tội ác của thực dân Pháp trước dư luận quốc tế.
- 1920: Tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tua, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Trước đó (7-1920), Người đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lê-nin, tìm thấy con đường cứu nước.
- 1921 – 1924: Cùng một số nhà yêu nước các thuộc địa lập Hội Liên hiệp thuộc địa (1921) ở Pa-ri, ra báo Người cùng khổ (Le Paria, 1922); sang Liên Xô (1923), dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản (1924); cuối năm 1924 về Quảng Châu (Trung Quốc).
- 1925: Thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu, đào tạo cán bộ cách mạng và tiếp tục kết nối với Quốc tế Cộng sản.
- 1927: Tác phẩm Đường kách mệnh đào tạo cán bộ, nêu rõ mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với phong trào vô sản thế giới.
1.3 Giai đoạn 1930 - 1945: đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam và cách mạng Việt Nam
- 3-2-1930: Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; chủ trương giải phóng dân tộc gắn liền với đấu tranh giai cấp và đoàn kết quốc tế.
- 1930 – 1935: Đảng giữ liên lạc với Quốc tế Cộng sản; năm 1931 Đảng Cộng sản Đông Dương được Quốc tế Cộng sản công nhận là phân bộ độc lập; năm 1935, đoàn đại biểu của Đảng do Lê Hồng Phong dẫn đầu dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản.
- 1941: Nguyễn Ái Quốc về nước; Hội nghị Trung ương 8 quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh).
- 1942 – 1945: Hồ Chí Minh sang Trung Quốc tranh thủ sự giúp đỡ của lực lượng Đồng minh chống phát xít; năm 1945, Việt Minh hợp tác với lực lượng Đồng minh (Mỹ) trong cuộc chiến chống phát xít Nhật ở Đông Dương.
- 1945: Cách mạng tháng Tám thành công; ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
| Giai đoạn | Nội dung đối ngoại chính |
|---|---|
| 1911 - 1925 | Nguyễn Ái Quốc học tập, tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin; đưa vấn đề Việt Nam ra quốc tế tại Hội nghị Véc-xai (1919); xuất bản báo chí, thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925). |
| 1930 - 1945 | Đảng liên hệ với Quốc tế Cộng sản (dự Đại hội VII năm 1935); xây dựng Việt Minh (1941); tranh thủ sự giúp đỡ của lực lượng Đồng minh chống phát xít. |
| 1945 | Giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám; đọc Tuyên ngôn Độc lập (2-9). |
2. Kết quả - Ý nghĩa - Bài học kinh nghiệm
- Tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng tiến bộ, Quốc tế Cộng sản và nhân dân nhiều nước; góp phần vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám (1945).
- Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam; đào tạo đội ngũ cán bộ cách mạng.
- Hoạt động đối ngoại đã đưa vấn đề Việt Nam ra quốc tế, thu hút sự đồng tình của nhân dân tiến bộ trên thế giới.
- Khẳng định đường lối đối ngoại kết hợp đấu tranh trong nước với ngoại giao nhân dân và đối ngoại quốc tế.
- Cho thấy sức mạnh của đoàn kết quốc tế đối với thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc.
- Chủ động: Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ động tìm đường cứu nước, không chờ đợi may rủi.
- Gắn với mục tiêu dân tộc: Đối ngoại phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
- Đa dạng hình thức: Kết hợp vận động nhân dân, tiếp xúc chính khách, xuất bản báo chí để tạo dư luận quốc tế.
- Đề cao độc lập chủ quyền: Đối ngoại nhằm củng cố vị thế Việt Nam, không phụ thuộc vào nước ngoài.
3. Câu hỏi ôn tập
Gợi ý trả lời
Liệt kê theo trục thời gian: Đông Du (1905), Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước (1911), Việt Nam Quang Phục Hội (1912), Hội nghị Véc-xai (1919), thành lập Đảng Cộng sản Pháp (1920), Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925), tác phẩm Đường kách mệnh (1927), thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930), thành lập Việt Minh (1941), Cách mạng tháng Tám thành công (tháng 8-1945); đọc Tuyên ngôn Độc lập (2-9-1945).
Gợi ý trả lời
Vì nó đã tạo điều kiện quốc tế thuận lợi (đưa vấn đề Việt Nam ra quốc tế, tranh thủ sự đồng tình), củng cố lực lượng cách mạng trong nước (thông qua đào tạo cán bộ, kết nối với Quốc tế Cộng sản) và giúp Đảng có đường lối đúng đắn, mạnh dạn nhân thời cơ giành chính quyền.
Gợi ý trả lời
Phong trào yêu nước: mang tính cá nhân, thử nghiệm, tìm kiếm đồng minh còn hạn chế, thiếu đường lối chiến lược. Hoạt động của Đảng: có định hướng rõ ràng, gắn với phong trào cách mạng thế giới, chủ động kết hợp nhiều hình thức, vì mục tiêu giải phóng dân tộc.