Đăng nhậpDùng miễn phí

Ngữ văn 12 · Tập 1

Bài 1. Khả năng lớn lao của tiểu thuyết

Tiểu thuyết hiện đại là gì, có đặc trưng ra sao và vì sao nó có thể bao quát cả một thế giới cuộc đời rộng lớn.

1. Tri thức Ngữ văn của bài

Bài học giúp em nhận biết và phân tích một số nét đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại, đồng thời làm quen với phong cách hiện thực và hai biện pháp tu từ nói mỉa, nghịch ngữ.

Định nghĩa

Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự quy mô lớn, có khả năng bao quát hiện thực rộng lớn qua nhiều không gian, thời gian, đồng thời đặc biệt quan tâm đến đời tư và số phận cá nhân. Tiểu thuyết hiện đại thể hiện một cách tư duy mới về đời sống, khác với tiểu thuyết cổ điển ra đời trước đó.

Đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại cần nhận diện
  • Hiện thực được nhìn ở cự li gần, gắn với đời tư, đời thường, thế giới đang vận động.
  • Nhân vật: thường có nhiều nhân vật; con người được khám phá ở đời sống nội tâm phức tạp, không đơn giản là tốt hay xấu.
  • Cốt truyện: nhiều sự kiện, nhiều tuyến; có thể không theo trật tự thời gian.
  • Người kể chuyện và điểm nhìn: có thể kể ở ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba; điểm nhìn linh hoạt, có thể di chuyển qua nhiều nhân vật.
  • Ngôn ngữ: đa thanh, kết hợp lời người kể chuyện với lời nhân vật.
Phong cách hiện thực

Phong cách chú trọng mối quan hệ giữa hoàn cảnh xã hội và tính cách con người, miêu tả hiện thực một cách chi tiết, chân thực, tránh tô vẽ hay lí tưởng hoá. Phong cách hiện thực đối lập với phong cách lãng mạn.

Lưu ý

Khi đọc đoạn trích tiểu thuyết, em cần chú ý người kể chuyện, điểm nhìn, cách xây dựng nhân vật (ngoại hình, hành động, lời nói, nội tâm) và mối quan hệ giữa nhân vật với hoàn cảnh xã hội.

2. Đọc hiểu các văn bản trong bài

2.1 Xuân Tóc Đỏ cứu quốc (trích Số đỏ - Vũ Trọng Phụng)

Tác giả, xuất xứ. Vũ Trọng Phụng (1912–1939) là nhà văn hiện thực tiêu biểu, nổi tiếng với tiểu thuyết và phóng sự, đặc biệt là ngòi bút trào phúng sắc sảo. Số đỏ đăng báo năm 1936, được xem là kiệt tác trào phúng của văn học Việt Nam thế kỉ XX. Tác phẩm kể quá trình Xuân Tóc Đỏ, một kẻ lưu manh, gặp thời mà “ăn nên làm ra”, leo lên nấc thang danh vọng của xã hội thượng lưu thành thị thời thuộc địa.

Tóm tắt. Nhân dịp vua Xiêm sang thăm, một trận quần vợt được tổ chức ở Hà Nội. Hai quán quân Hải và Thụ mất tích, Xuân Tóc Đỏ được đưa ra đấu với quán quân Xiêm. Giới cầm quyền sợ Xuân thắng sẽ làm mất lòng nhà vua, gây rắc rối ngoại giao, nên nhờ ông Văn Minh thuyết phục Xuân chịu thua, viện cớ thắng thì có thể gây ra chiến tranh. Xuân thua trong tiếng la ó của khán giả, rồi đứng lên diễn thuyết rằng mình thua để “hi sinh vì nghĩa lớn”, tránh cho đất nước hoạ binh đao. Đám đông lập tức quay sang tung hô Xuân như một anh hùng cứu quốc.

Giá trị nội dung. Đoạn trích phơi bày bộ mặt lố bịch của xã hội thành thị thời thuộc địa: danh vọng hão, đám đông dễ bị thao túng, giới cầm quyền hèn nhát, giả dối. Một kẻ lưu manh trở thành “anh hùng cứu quốc” là sự mỉa mai sâu cay đối với xã hội ấy.

Đặc sắc nghệ thuật.

2.2 Mùa lá rụng trong vườn (trích - Ma Văn Kháng)

Tác giả, xuất xứ. Ma Văn Kháng (tên khai sinh Đinh Trọng Đoàn, sinh năm 1936) là nhà văn có nhiều tác phẩm về miền núi và về đời sống thành thị thời kì đổi mới. Mùa lá rụng trong vườn là tiểu thuyết in năm 1985, được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986. Tác phẩm viết về một gia đình truyền thống trước những biến động của xã hội.

Tóm tắt. Chiều 30 Tết, chị Hoài, con dâu trưởng cũ của gia đình ông Bằng (chồng chị đã hi sinh, chị đã đi bước nữa), bất ngờ trở về thăm. Cả nhà xúc động đón chị; chị ân cần hỏi han từng người, mang quà quê. Ông Bằng làm lễ cúng gia tiên, dòng suy nghĩ của ông nối quá khứ với hiện tại; chị Hoài cũng thắp hương trước bàn thờ. Cả gia đình quây quần bên mâm cỗ tất niên. Qua đó hiện lên tâm lí, tính cách của các nhân vật như ông Bằng, chị Hoài, Phượng, Lí, Luận, Đông.

Giá trị nội dung. Đoạn trích ca ngợi tình thân, lòng biết ơn tổ tiên và vẻ đẹp văn hoá truyền thống ngày Tết; qua nhân vật chị Hoài (đôn hậu, chân chất, thuỷ chung, giàu tình nghĩa), tác giả khẳng định những giá trị bền vững của gia đình trước những đổi thay của thời cuộc.

Đặc sắc nghệ thuật.

2.3 Thực hành đọc: Trên xuồng cứu nạn (trích Cuộc đời của Pi - Y. Martel)

Tác giả, xuất xứ. Yann Martel (Y-an Ma-ten, sinh năm 1963) là nhà văn Canada. Tiểu thuyết Cuộc đời của Pi (Life of Pi, xuất bản năm 2001) đoạt Giải Booker năm 2002. Tác phẩm kể câu chuyện sinh tồn trên biển của cậu bé Ấn Độ Pi sau khi con tàu chở gia đình và các con thú của vườn thú gia đình bị đắm.

Nội dung đoạn trích. Lênh đênh trên chiếc xuồng cứu sinh giữa Thái Bình Dương cùng con hổ Bengal tên Richard Parker, Pi phải đối mặt với nỗi sợ hãi, đói khát, cô đơn và mối nguy từ con thú dữ. Cậu tự kể lại những suy nghĩ, cảm xúc và cách xoay xở để giữ mạng sống.

Giá trị nội dung. Đoạn trích khắc hoạ ý chí sinh tồn mãnh liệt, sự bình tĩnh và trí tuệ của con người trong hoàn cảnh hiểm nghèo; gợi suy nghĩ về nỗi sợ, niềm tin và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.

Đặc sắc nghệ thuật.

3. Thực hành tiếng Việt: Biện pháp tu từ nói mỉa, nghịch ngữ

Đặc điểm và tác dụng
  • Nói mỉa: biện pháp tu từ thể hiện thái độ mỉa mai, phủ định của người nói, tạo ra sự đối lập có chủ ý giữa nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn.
  • Nghịch ngữ: biện pháp tu từ dùng một kết hợp từ có các thành phần trái nghĩa nhau, gây ấn tượng mạnh, làm nổi bật tính hai mặt của một tình thế hoặc tâm trạng. Nghịch ngữ thường là phương tiện của nói mỉa.
  • Trong Số đỏ, nói mỉa và nghịch ngữ được dùng dày đặc, góp phần tạo nên tiếng cười trào phúng.

4. Viết: Nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện

Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện
  1. 1.
    Mở bài: giới thiệu hai tác phẩm, nêu khía cạnh sẽ so sánh (đề tài, nhân vật, cách kể…).
  2. 2.
    Thân bài: lần lượt phân tích điểm tương đồng và khác biệt trên từng phương diện, có dẫn chứng; lí giải nguyên nhân (hoàn cảnh sáng tác, phong cách tác giả); đánh giá giá trị của mỗi tác phẩm.
  3. 3.
    Kết bài: khẳng định ý nghĩa của việc so sánh và nêu nhận định chung.

Lưu ý: so sánh phải có tiêu chí rõ ràng, tránh phân tích rời rạc từng tác phẩm hoặc chỉ kể lại nội dung.

5. Nói và nghe

Trình bày kết quả so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện: nêu rõ hai tác phẩm, tiêu chí so sánh, những điểm giống và khác cùng lí giải, đánh giá. Khi nghe, ghi lại ý chính, nhận xét về tính hợp lí của các tiêu chí và dẫn chứng; đặt câu hỏi để làm rõ khi cần.

6. Câu hỏi ôn tập

Câu hỏi 1

Tình huống trong đoạn trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc có gì đặc biệt và tạo nên tiếng cười trào phúng như thế nào?

Gợi ý trả lời

Xuân bị buộc phải thua để giữ hoà khí ngoại giao; thua thì bị la ó, nhưng nhờ bài diễn thuyết “hi sinh vì nghĩa lớn” lại được tung hô là anh hùng cứu quốc. Sự đảo ngược phi lí ấy phơi bày sự hèn nhát của giới cầm quyền và sự dễ bị thao túng của đám đông.

Câu hỏi 2

Nhân vật chị Hoài trong Mùa lá rụng trong vườn hiện lên với những phẩm chất nào?

Gợi ý trả lời

Đôn hậu, chân chất, thuỷ chung, giàu tình nghĩa: dù đã có gia đình mới vẫn về thăm nhà chồng cũ chiều 30 Tết, ân cần với từng người, thắp hương tổ tiên.

Câu hỏi 3

Người kể chuyện ngôi thứ nhất có tác dụng gì trong đoạn trích Trên xuồng cứu nạn?

Gợi ý trả lời

Pi tự kể lại trải nghiệm của mình nên câu chuyện chân thực, người đọc thấy rõ nỗi sợ, suy nghĩ và ý chí sống của nhân vật trong hoàn cảnh hiểm nghèo.

Câu hỏi 4

So sánh điểm nhìn trần thuật ở hai đoạn trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc và Mùa lá rụng trong vườn.

Gợi ý trả lời

Cả hai đều dùng người kể chuyện ngôi thứ ba. Ở Số đỏ, điểm nhìn bao quát phục vụ giọng trào phúng, giễu nhại; ở Mùa lá rụng trong vườn, điểm nhìn di chuyển qua nhiều nhân vật để khắc hoạ đời sống nội tâm, giọng điệu trân trọng, ấm áp.

Câu hỏi 5

Phân biệt nói mỉa và nghịch ngữ.

Gợi ý trả lời

Nói mỉa tạo sự đối lập giữa nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn để bộc lộ thái độ mỉa mai, phủ định; nghịch ngữ là kết hợp những từ ngữ trái nghĩa nhau trong một cụm từ để làm nổi bật tính hai mặt của sự vật, tâm trạng. Nghịch ngữ thường là một phương tiện của nói mỉa.

Gặp bài khó? Chụp ảnh để CEAO giảiAI giải từng bước, đề kiểm tra theo bài, thẻ ghi nhớ. Đăng ký miễn phí.
Thử ngay